Bóng giai nhân 27
Người ta có thể chết mà không cần lý do
Chú Lâm đóng cửa lại rồi kêu tôi ngồi đợi. Căn hộ của người đàn ông độc thân này không có gì để ngắm, mọi thứ sơ sài và buồn tẻ, chiếc bàn uống nước sạch bóng, bộ salon gỗ lát kiểu cổ, nước vecni sờn cũ xuống màu tối, những vân gỗ lát vàng óng như cố khoe ra một vẻ hào nhoáng đã mất. Tôi chăm chú nhìn kỹ những vân gỗ ấy, cái màu vàng của nó thật kỳ lạ, thật đẹp, tầng tầng lớp lớp chiều sâu và khúc xạ lấp lánh. Thật đáng tiếc là nó lạc lõng, toàn bộ chúng lạc lõng trong kiểu cách bộ salon tay vịn cong đã lỗi thời vài chục năm. Vẻ đẹp của những vân gỗ ấy không còn giá trị gì hết, ngay cả khi đằng sau nó là một bề dày thời gian đáng kể. Chắc hẳn cây gỗ lát này phải đến hàng trăm năm tuổi, nó từng là một đại thụ nơi rừng đại ngàn, đâu đó sâu tít trong dãy Hoàng Liên Sơn hay vùng Thượng Lào. Suốt hàng trăm năm đứng đó, bao mùa mưa nắng, bao mùa thay lá, biết bao nhiêu thay đổi. Nơi đó muôn vàn loài chim muông cây cối vây quanh nó, chúng cùng chung sống, dựa vào nhau để sinh tồn. Một ngày, có lẽ vào khoảng những năm tám mươi, cây gỗ lát này đã bị đốn hạ, xẻ thành nhiều súc gỗ lớn nhỏ, được chuyển đến các xưởng mộc, và trở thành giường tủ bàn ghế, các thành phẩm một thời được gọi là đồ gỗ mô đéc. Giường mô đéc, sa lông mô đéc, tủ mô đéc… Người ta đã từng tự hào biết bao khi khoe ra những bộ salon gỗ lát như thế, bình luận mê say về những hình thù vân gỗ óng ánh kia, bên chén trà bốc khói.
Giờ đây nó nằm đó, như chết rồi, bị lãng quên và khinh rẻ. Cho dù có thán phục những thớ gỗ đẹp đẽ ấy đến đâu, người ta cũng không muốn tha một thứ đồ lỗi mốt như thế này về phòng khách nhà mình. Mà thực ra khóc thương cái nỗi gì chứ? Nó đã chết ngay từ khi bị đốn hạ khỏi rừng đại ngàn, cây gỗ lát ấy.
Chú Lâm bước từ phòng trong ra, cắt đứt dòng suy ngẫm của tôi, trên tay là một chiếc va ly, có lẽ cũng cũ kỹ chả kém gì so với bộ salon kia. Một chiếc va ly da có những đai thép bọc ở các góc, khóa gỉ sét.
- Ái chà! – Tôi thốt lên – Chú có vẻ thích chơi đồ cổ nhỉ?
- Cứ chờ xem! – Ông ta nói và mở va ly ra.
- Trời ạ! – Tôi kêu lên sửng sốt.
Đó là cả một kho vũ khí: Dao, súng, lựu đạn… đủ cả, chưa kể một số món đồ lạ lùng mà tôi không biết là gì nữa, có lẽ là kíp mìn và thuốc nổ. Tất cả súng ống được bọc trong túi nilon dán kín, dầu mỡ cẩn thận.
- Đây là khẩu rulô, tặng cho cậu luôn, nó dễ sử dụng, lại an toàn – Ông ta nói và mở túi nilon lấy ra đưa cho tôi một khẩu súng.
- Đẹp quá! – Tôi trầm trồ.
- Đây là súng lục bọn sĩ quan cao cấp cảnh sát ngụy hay dùng, ổ xoay có năm viên đạn, báng nhỏ. Loại thường cho các sĩ quan cấp thấp thì to hơn, ổ đạn có sáu viên. Chiến lợi phẩm của tôi đấy, nó vốn là của một thằng đại tá cảnh sát ngụy – Ông ta cầm lại khẩu súng giảng giải.
Tôi thấy khuôn mặt người đàn ông ấy như bừng sáng, ông ta mân mê cái báng gỗ bóng loáng, cầm nắm nó, dùng ngón cái kéo cái lẫy trên gáy súng lên, ngắm mơ hồ về phía cửa sổ và bóp cò. Cạch! – Một tiếng kim khí sắc lạnh khẽ vang lên trong căn phòng tĩnh lặng. Ông ta quay sang tôi mỉm cười: “Thế là thêm một mạng nữa!”
- Cậu bấm vào đây – Ông ta bắt đầu dốc những viên đạn trong hộp ra và hướng dẫn tôi – bấm vào đây rồi đẩy ổ đạn ra, nhét đạn vào, đóng lại. Bây giờ phải cẩn thận, bóp mạnh cò là nổ, còn muốn bắn chính xác thì kéo lẫy lên như tôi vừa làm, nhưng kéo lẫy lên rất nguy hiểm vì cò sẽ rất nhạy, chỉ bắn kiểu này khi có thời gian ngắm kỹ những mục tiêu ở xa. Muốn hạ lẫy xuống thì kéo tiếp lên giữ nguyên, sau đó bóp cò rồi từ từ hạ lẫy xuống, cái lẫy điểm hỏa ấy. Súng này chủ yếu để phòng thân nên thường bắn gần, áp sát, cứ siết mạnh cò là nổ súng, nhưng vì thế nên không chính xác lắm. Bắn hết thì thay đạn, hơi cách rách hơn súng lục tự động một tí, có năm viên thôi, nhớ nhá! Lúc đấy có khi sợ đái ra quần, lập cập là cậu đếch nhét được đạn vào ổ đâu. Làm thử đi cho quen!
- Chắc tôi sẽ làm được thôi! – Tôi nói và hăm hở cầm lấy khẩu súng, dốc đạn ra, lắp đạn vào vài lần, xoay tít ổ đạn. Cái vật đẹp đẽ nhỏ bé ấy toát ra một thứ uy lực, nặng trịch, những đường cong cổ điển mềm mại ở báng gỗ tương phản với những múi khế sắc nét bằng thép đen ở ổ đạn và nòng súng. Nó thật vừa vặn với bàn tay nhỏ bé của tôi, thân thuộc, như thể nó được sản xuất ra để dành riêng cho tôi vậy. Cầm nó trong lòng bàn tay, tôi cảm thấy như tìm lại được chính mình.
- Phê quá hả? – Ông ta ranh mãnh nhìn tôi cười – Tôi biết là nó hợp với cái loại thư sinh trói gà không chặt như cậu.
- Thế còn chú? – Tôi hỏi.
- Đây, đồ chơi của tôi đây – Ông ta lấy ra một khẩu súng lục tự động to tướng, đen trũi, ngắm nghía nó hồi lâu, sau đó tháo băng tiếp đạn ra và lắp từng viên vào. Tất cả những động tác của người cựu binh ấy thuần thục, chính xác, khuôn mặt ông ta trở nên u ám và tập trung cao độ. Trong số những viên đạn dốc ra tấm khăn trên mặt bàn, nhiều viên đã gỉ xanh, ông ta gẩy riêng chúng ra một góc, chọn những viên còn khả dĩ. Nhồi xong đạn vào ba băng tiếp đạn, ông ta lắp một băng vào báng súng, sau đó chọn cho tôi thêm hơn chục viên đạn nữa, số còn lại cất trở lại vào hộp.
- Như thế cũng đủ để chấp cả lũ chúng nó – Tôi nói.
- Tôi không chắc lắm đâu – Ông ta lắc đầu – Nhiều viên lép lắm, thế nên tôi chọn cho cậu khẩu rulô ấy, nếu bóp cò không nổ, cậu cứ tiếp tục bóp cò cho đến khi ổ đạn xoay đến viên còn tốt, nhớ nhá! Đạn thì cho vào túi quần bò bên trái phía trước cho dễ lấy, mà như thế khi chạy đạn không bị rơi vãi.
- Vâng! Chú yên tâm đi, tôi biết rồi! – Tôi nhanh nhảu.
- Biết cái cục cứt! – Ông ta cười khẩy – Đến lúc đạn nổ bên tai thì chả ai biết cái chó gì nữa đâu.
Ông ta lấy ra một con dao bấm nhỏ đút vào túi, hai băng đạn đút vào hai túi sau quần bò. Hai khẩu súng thì nhét vào chiếc cặp máy tính của tôi. Chiếc máy tính được chuyển vào va ly quần áo.
Ông ta nhìn tôi, đôi mắt ánh lên một vẻ kỳ lạ.
- Sẵn sàng chưa? – Ông ta lại hỏi – Cứ xác định trước đi thì sẽ bình tĩnh hơn! Một cái mẹo bọn tôi hay áp dụng đấy, cứ xác định cùng lắm thì mình sẽ chết trong trận này, cứ liều mạng như tìm lấy cái chết thì lại chả làm sao, chứ trận nào có mấy thằng do dự mất tinh thần thì hầu như chẳng bao giờ bọn đấy còn sống sau trận ấy cả.
- Sẵn sàng rồi – Tôi đáp – Tôi đang muốn chết đây.
- Không phải thế – Ông ta cau mày – Tôi không vào trận với một thằng đang muốn chết, vì nó sẽ làm mình chết oan theo nó.
- Tôi hiểu rồi – Tôi nói – Tôi hiểu rồi, chú yên tâm đi, tôi sẽ tìm mọi cách để sống sót, nhưng tôi cũng xác định trước là tôi có thể sẽ chết nếu không lao vào đó, vào cái chỗ chết ấy.
- Được rồi đấy – Ông ta nói – Cậu hiểu lính tráng rồi đấy.
Chúng tôi thu dọn đồ đạc. Ông ta lôi chai rượu tắc kè ra, hai chúng tôi tiếp tục uống.
- Sau chuyện này chú định thế nào? – Tôi hỏi.
- Tôi vào trong Nam lánh một thời gian, có khi ở hẳn trong ấy, hoặc sang Cam Pu Chia.
- Chú làm gì kiếm sống?
- Thiếu gì chiến hữu cũ trong ấy, tôi làm gì cũng được, lái xe, làm bảo vệ, buôn lậu, gì cũng chơi.
- Công an liệu có tìm ra chú không?
- Khó nói lắm, may hơn khôn thôi. Còn cậu thì sao?
- Tôi ấy à? Tôi chưa nghĩ đến, nhưng có lẽ tôi sẽ quay về đâu đấy gần Biển Hồ, ẩn dật như tụi phỉ năm xưa ấy.
- Tại sao lại trốn ở đấy? Càng những chỗ vắng vẻ lại càng hay lộ, cứ về thành phố lại dễ trà trộn hơn chứ?
- Tôi biết, hơn chục năm nay tôi sống chết thế nào ở thành phố đâu có ai biết đâu.
- Thế tại sao cậu lại về Biển Hồ?
- Có một người chờ tôi ở đấy.
- À, lại đàn bà!
- Vâng, có lẽ cô ấy vẫn luôn chờ đợi tôi, mười năm nay rồi.
- Cậu sẽ làm gì?
- Tôi sẽ câu cá.
- Ha ha ha! Cậu vui tính thật!
- Thật đấy, chú không tin hả? Tôi sẽ câu cá và viết văn. Chú đã đọc “Mãi mãi yêu em” với “Trọn kiếp yêu anh” chưa? Cả “Đêm say tình nồng” nữa. Tôi viết đấy.
- Tôi có bao giờ đọc sách đâu.
- Tôi sẽ đổi tên khác rồi viết khác đi.
- Cậu định đổi tên gì? Tôi sẽ tìm đọc xem sao.
- Đổi tên gì nhỉ? Chú chọn hộ tôi một cái tên đi!
- Ha ha ha! Vinh dự quá nhỉ! Tôi được đặt tên cho nhà văn à?
- Gọi là bút danh.
- Vậy lấy tên là Phan Lam được không?
- Hay lắm! Nhưng sao lại là Phan Lam?
- Phan Rang với Lâm, tên tôi.
- Chắc chú có kỷ niệm gì ở Phan Rang đây, lại một cô giải phóng quân à?
- Cứ biết thế đi.
- Được, sau này chú sẽ thấy có một nhà văn Phan Lam bí ẩn nổi tiếng, nhưng đừng khoe với ai nhé!
- Lúc ấy tôi sẽ đến tống tiền đòi nợ cậu.
- Hy vọng lúc ấy chú chưa quá già. Chú biết đấy, các nhà văn thường nổi tiếng khi họ đã chết rồi.
- Tôi sống dai lắm, khó chết lắm, yên tâm đi.
- Chính ra, tôi nên chết để trở nên nổi tiếng, nhỉ?
- Ừ, nhưng chết cũng không dễ đâu, rồi cậu xem.
- Nếu tôi chết, sách của tôi sẽ bán chạy như tôm tươi. Ha ha ha!
- Nào uống đi! Chết rồi không có rượu mà uống đâu!
Chú Lâm rót rượu, chúng tôi cụng ly rồi cùng uống cạn. Chúng tôi tận hưởng cảm giác lâng lâng với những ý nghĩ quá khích. Cuối cùng thì tôi đã cảm thấy thực sự biết cách tận hưởng cuộc sống, từng giây phút quý giá, như một cậu học trò trong phòng thi đang cố gắng chạy đua với thời gian. Hoặc giống như những phút đá bù giờ trong một trận bóng. Nhưng khác cậu học trò và những cầu thủ kia ở một điều là tôi đang rất thoải mái. Đúng như chú Lâm nói, khi đã xác định trước một khả năng xấu nhất, chấp nhận một tình huống khó khăn, tự người ta sẽ bước hẳn qua ranh giới những do dự và sợ hãi thường trực, vượt qua chúng, chế ngự chúng. Chỉ còn một cảm giác về tự do, một chút tiếc nuối về quãng thời gian đã mất, về những hoang phí hay tằn tiện vô lối của cuộc sống phù phiếm đã qua. Giống như tôi chợt nhận ra rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, rất có thể tôi sẽ không cần đến chiếc laptop kia nữa, điện thoại và đồng hồ cũng vậy, chẳng có ích gì, những vật dụng sang trọng, tiền bạc… Tất cả những thứ đó sẽ không có ý nghĩa bằng một viên đạn được đặt đúng chỗ, đúng lúc.
***
Tôi rút điện thoại ra gọi cho A Thiên, chúng tôi buộc phải kéo cậu ta vào cuộc, không có cậu ta không được. Nhưng cậu ta sẽ chỉ biết mọi chuyện vào phút cuối cùng, khi chúng tôi xử lý A Sùng. Hầu như cả tôi và chú Lâm đều tin chắc rằng mọi chuyện sẽ êm xuôi, sẽ không có chuyện gì đen đủi, bởi chúng tôi không tin vào may rủi, chúng tôi chỉ tin vào việc mình phải làm, thế thôi.
Tôi bước hẳn ra ngoài gọi điện cho Ly và Thomas Trần. Thật ngạc nhiên, họ đều tắt máy, họ biến mất như thể cùng đồng lõa trong một âm mưu chống lại tôi vậy. Tôi soạn sẵn một tin nhắn về hòm thư điện tử và mật khẩu của mình và của Tiểu Đăng, tất cả, tôi sẽ gửi nó cho ai đây? Nếu như tôi phải chết?
Liệu kẻ đó sẽ là ai? Kẻ sẽ phải mang vác cái gánh nợ đời ấy? Tôi không biết nữa, tôi sẽ nhắn cho một ai đó bất kỳ mà tôi nghĩ đến trước khi trút hơi thở cuối cùng. Ha ha ha! Hỡi các bạn của tôi, hãy chuẩn bị tinh thần! Rất có thể vào một ngày đẹp trời, bạn sẽ nhận được một cú điện thoại hoặc một tin nhắn định mệnh, bạn sẽ bị cuốn vào một giấc mơ tăm tối mà không thể tìm thấy lối ra, không có con đường nào cho bạn quay trở lại. Không phải chúng ta vẫn luôn bị lạc lối trong cuộc đời đó sao?
Tôi bấm số máy gọi điện cho Mai. Nếu như ngày mai tôi không còn nữa, nàng chính là người cuối cùng trên đời mà tôi muốn được nghe giọng nói. Hình ảnh cuối cùng mà tôi muốn lưu giữ trong đáy mắt, nếu như, thì đó chính là khuôn mặt nàng, với mái tóc gợn sóng, tôi sẽ nhớ đến hình ảnh đó. Đôi mắt nàng in bóng bầu trời, nếu như, thì đó chính là đôi mắt mà tôi muốn soi bóng mình trong đó, hoàng hôn. Đôi mắt đó giống như mặt nước Biển Hồ, sâu thẳm. Ôi giai nhân của tôi!
Tôi sẽ trở về với nàng, nếu như có thể. Tôi sẽ tiếp tục viết văn, công việc mà tôi yêu thích. Tôi sẽ viết lại từ đầu những trang mới cuộc đời mình, nếu như có thể. Tôi bắt đầu lẩm nhẩm những điều mình sẽ viết.
Có lẽ tôi sẽ viết thế này:
Người tôi yêu, tôi đã đợi nàng từ triệu năm trước, và tôi sẽ đợi nàng ngay cả khi tôi không còn nữa. Người yêu tôi có đôi mắt pha màu trời mây non nước mỗi chiều hoang, khi tôi còn thơ ấu lang thang trên thảo nguyên và ngắm những đỉnh núi chập trùng, tôi đã mơ về nàng biết bao lần. Người yêu tôi có mái tóc rối bời mơn man khi gió trên lưng chừng đồi, và nắng đến từ nơi xa, đã mang theo làn hương thơm cùng cỏ cây hoa lá, đất đai, suối nguồn, cùng muôn vàn chim muông. Tôi biết nàng đã tìm tôi, dịu dàng e ấp, với nỗi buồn trong đáy mắt trong, nỗi buồn trong tiền kiếp, như chúng tôi đã ở đó khi nao, tự bao giờ, không biết nữa. Người yêu tôi gót chân hồng bước trên cỏ xanh, băng qua những chân trời và những đám mây trắng, giọng nàng như gió thoảng, sẽ ru tôi qua cơn miên dại, sẽ đưa tôi trở lại chốn xa xưa, thuở ấu thơ, hay đưa tôi về với những mơ ước chưa bao giờ tàn lụi. Bàn tay nàng dịu mát giữa một trưa hè oi ả, nơi những khóm tre đang lăn tăn rơi lá, và khe khẽ rì rào, chúng cọ mình vào nhau âu yếm, những tiếng kẽo kẹt uể oải, và khi đó thời gian dừng lại mãi mãi. Đôi mắt nàng in bóng những tán cọ lộng lẫy trên cao, những tán cọ đang nhìn chúng ta và rung rinh, rung rinh, đôi mắt nàng đẹp quá! Đừng bao giờ thôi đẹp đẽ như thế, ngay cả khi đôi mi sẽ khép lại vĩnh viễn, thì cũng chỉ là một giấc ngủ trưa hè của nàng trong cõi vĩnh hằng, mai đây, sau này, khi chúng ta yên ngủ. Đâu đó trong cõi vô định này./.
Đặng Thiều Quang -17/04/2008









Leave your response!